Chương 15 - Số Phận Của Quý Phi
Từng bước, trầm ổn, vững chắc—như đã được đo sẵn từng tấc một.
Khi ông bước vào đại điện, văn võ bá quan tự động tách ra hai bên, nhường đường.
Mọi ánh mắt đều đổ dồn về ông.
Có tôn kính.
Có tò mò.
Cũng có cảnh giác.
Phụ thân ta không liếc ngang dọc.
Chỉ đi thẳng tới trước ngự tọa.
Rồi ông vén áo bào, quỳ xuống dưới bệ rồng, đối diện người đã từng gọi ông là “phụ soái”, nay lại làm con gái ông tan nát cõi lòng.
“Thần, Giang Vi, tham kiến Hoàng thượng.”
Giọng ông vang vọng khắp Thái Hòa điện—rắn rỏi, vững vàng, như tiếng chuông đồng giữa hư không.
Không hề có một chút kiêu căng vì là công thần.
Cũng không có chút gần gũi vì là quốc trượng.
Chỉ còn lại, sự lễ nghi thuần túy của bề tôi với vua.
Ta nhìn qua rèm châu, lặng lẽ dõi theo cảnh tượng ấy.
Nhìn phụ thân ta quỳ xuống trước người đàn ông từng gọi ông là “phụ soái” ấy.
Tim ta—như bị ai bóp nghẹt.
Ta hiểu rõ.
Từ khoảnh khắc quỳ xuống ấy—
Tình thân, ân nghĩa… còn sót lại giữa Giang gia và Tiêu Cảnh Diễm—
Đã hoàn toàn chấm dứt.
Chỉ còn lại:
Quân – thần.
Giang sơn – con cờ.
Một ván cờ mới, từ đây—chính thức bắt đầu.
19
Yến tiệc tiếp phong ở Thái Hòa điện lần này, là lần long trọng nhất kể từ khi Tiêu Cảnh Diễm đăng cơ đến nay.
Chén rượu bằng vàng, ly ngọc bằng lưu ly, vũ cơ tay áo lượn bay như bướm, nhạc công tấu lên tiếng tơ tiếng trúc ngân vang không dứt.
Văn võ bá quan, tụ họp đầy đủ.
Những tân quý mới được đề bạt từ tầng lớp hàn môn, ai nấy đều như dẫm trên băng mỏng, thấp thỏm không yên, trên mặt mang theo sự hưng phấn không che giấu nổi và cố sức lấy lòng.
Còn những lão thần thế gia may mắn sống sót sau cơn bão triều chính thì lại mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, trầm mặc như những pho tượng đất.
Cả đại điện, hiện ra một cảnh tượng náo nhiệt mà rạn nứt một cách kỳ dị.
Ánh mắt của mọi người, hữu ý vô tình, đều dừng lại nơi người đang ngồi ở vị trí đầu các quan, từ đầu đến cuối chỉ gắp ba đũa rau xanh.
Phụ thân ta – Giang Vi.
Ông vận triều phục võ tướng màu đỏ tía, lưng thẳng tắp như tùng, gương mặt bình lặng như nước.
Ca vũ xung quanh, sơn hào hải vị trước mặt, dường như đều cách ông một thế giới.
Ông giống như một thanh danh kiếm tuyệt thế đã được tôi luyện qua máu lửa chiến trường. Dù giờ đây đã thu lại toàn bộ phong mang, an tĩnh nằm trong hộp gấm, thì khí tức sắc lạnh vô hình kia, vẫn khiến lòng người run rẩy.
Tiêu Cảnh Diễm ngồi trên long ỷ cao cao, liên tục nâng chén kính rượu:
“Giang ái khanh công lao hiển hách, vì Đại Chu trấn thủ Bắc cảnh mấy chục năm. Trẫm kính khanh một chén.”
Giọng hắn ôn hòa, thân thiết, mang theo khí độ của một đế vương biết trọng nhân tài.
Phụ thân ta chậm rãi đứng dậy, hai tay nâng chén rượu, miệng chén còn thấp hơn của Tiêu Cảnh Diễm một tấc.
“Thay bệ hạ gánh lo, là bổn phận của thần, không dám nhận công lao.”
Tiếng ông vang dội, trầm ổn, từng chữ nặng như đá nện xuống đất.
Ông ngửa đầu, một hơi uống cạn chén rượu.
Rồi lại yên lặng ngồi xuống, không nói thêm một lời nào.
Không có cảm tạ, cũng chẳng nịnh hót, chỉ có lễ nghi chuẩn mực nhất, lạnh nhạt nhất của thần tử đối với quân vương.
Nụ cười trên mặt Tiêu Cảnh Diễm, trong thoáng chốc khựng lại.
Hắn có lẽ chưa từng nghĩ rằng—người đàn ông từng vỗ vai hắn, hào sảng gọi hắn là “tiểu tử khá lắm”—nay lại dùng thái độ cung kính mà lãnh đạm như vậy đối diện với hắn.
Bầu không khí yến tiệc, lập tức trở nên vi diệu khó nói.
Một vị ngự sử mới được đề bạt, không biết là ngu xuẩn hay vì muốn thể hiện bản thân trước mặt hoàng thượng, bỗng đứng lên, cao giọng nói:
“Hoàng thượng anh minh, lấy thủ đoạn sấm sét chỉnh đốn triều cương, trừ bỏ quốc tặc họ Liễu, thật là phúc lớn của Đại Chu, phúc lớn của muôn dân!”
Hắn dừng một chút, bỗng đổi hướng, liếc nhìn phụ thân ta một cái.
“Chỉ là, tuy đảng cũ trong triều đã bị nhổ sạch, nhưng binh quyền nơi biên giới quá lớn, e cũng chẳng phải chuyện tốt cho quốc gia. Theo thiển ý của hạ quan, nên noi theo tiền triều, thiết lập ‘Kinh doanh’, luân phiên điều các quân đội biên phòng về kinh đóng quân. Một là để tướng sĩ cảm nhận ân điển, hai là cũng có thể giúp bệ hạ… trừ hậu họa.”
Lời này, nói thẳng đến cực điểm, cũng độc ác đến cực điểm.
Cái gọi là “hậu họa” ấy—mọi người trong điện đều hiểu rõ là đang ám chỉ gì.
Hắn đang ám chỉ Giang gia nắm trong tay binh quyền, công cao chấn chủ, là hiểm họa mới của triều đình.
Hắn đang ép Tiêu Cảnh Diễm, phải xuống tay với phụ thân ta.
Trong khoảnh khắc, cả đại điện lặng như tờ.
Tất cả ánh mắt, đều đổ dồn về phía phụ thân ta, và tấm rèm châu sau lưng ta.
Ta cảm nhận được ánh nhìn của Tiêu Cảnh Diễm—phức tạp, xen lẫn thăm dò—đang hướng về phía ta.
Hắn đang chờ.
Chờ phản ứng của phụ thân ta, có lẽ, cũng đang chờ phản ứng của ta.
Ta ngồi ngay ngắn, không hề lay động, hơi thở cũng không rối loạn.
Còn phụ thân ta, thậm chí… ngay cả mí mắt cũng không thèm nhấc.
Ông chỉ ung dung, từ tốn đặt đũa xuống, lấy khăn vải bên cạnh lau khóe miệng.
Sau đó, ông mới chậm rãi nhìn về phía cái kẻ không biết sống chết kia.
Ánh mắt ông, rất bình thản.
Không phẫn nộ, không sát khí—chỉ như đang nhìn một tên hề nhảy nhót.
“Ngươi tên gì?”
Ông mở miệng hỏi.
Tên ngự sử kia bị ánh mắt đó làm lạnh sống lưng, nhưng vẫn gắng gượng, ưỡn ngực nói:
“Hạ quan, ngự sử viện – Trương Khiêm.”
“Trương Khiêm.” Phụ thân ta gật đầu, như đã ghi nhớ cái tên này.
“Bổn tướng hỏi ngươi, ngươi từng thấy tuyết ở biên cương chưa?”
Trương Khiêm sững người, không hiểu vì sao lại hỏi thế.
“…Chưa từng.”
“Vậy ngươi từng thấy xác chết bị đông thành khối băng, chất thành núi chưa?”
Sắc mặt Trương Khiêm lập tức trắng bệch.
“…Cũng, cũng chưa từng.”
“Vậy ngươi từng ngửi thấy mùi thối rữa từ vết thương đầy giòi bọ, vì không có thuốc mà chỉ có thể chờ chết, chưa?”
Giọng của phụ thân ta vẫn bình thản, vẫn ổn định.
Nhưng từng chữ, đều như búa tạ nện vào lòng người.
Đại điện, im lặng đến đáng sợ.
Trương Khiêm môi run cầm cập, nói không ra lời.
Phụ thân ta từ từ đứng lên, ánh mắt quét qua toàn trường, cuối cùng dừng lại trên gương mặt Tiêu Cảnh Diễm.
“Bệ hạ.”
Ông trầm giọng nói:
“Ba mươi vạn tướng sĩ Giang gia quân của thần, đổ máu, bỏ mạng, là để giữ gìn giang sơn nhà họ Tiêu, là để bảo vệ sự yên bình của hàng vạn hộ dân trong kinh thành này.”
“Sự trung thành của họ, không cho phép bất kỳ ai, dùng cái miệng chưa từng nếm mùi máu tanh, mà tùy tiện bôi nhọ phỉ báng.”
“Tên Trương Khiêm này, không hiểu quân sự, mà dám loạn bàn binh quyền, hoặc là ngu, hoặc là hiểm.”
“Thần khẩn cầu bệ hạ, phái hắn đến tiền tuyến phương Bắc phục dịch.”
“Để hắn tận mắt nhìn xem, hắn làm sao mà ngồi trong cung điện ấm áp này, ăn uống yến tiệc thịnh soạn, là nhờ vào sinh mạng của những tướng sĩ nào đổi lấy.”
“Để hắn tận mắt nhìn xem, cái mà hắn gọi là ‘hậu họa’—rốt cuộc là một nhóm người như thế nào.”
Lời phụ thân ta, như sấm nổ bên tai—đanh thép, hùng hồn.
Không có một câu biện giải.
Không có một câu tỏ lòng trung.
Ông chỉ đơn giản—mở toang ra hiện thực tàn khốc nhất, đầy máu và xương.
Tên Trương Khiêm kia, đã sợ đến mức quỵ ngã tại chỗ, mặt mũi trắng bệch không còn chút máu.
Văn võ cả triều, không ai dám lên tiếng.
Ta, ngồi sau rèm châu, lặng lẽ nhìn bóng lưng cha mình—cao lớn, thẳng tắp, như một ngọn núi.
Nhìn ông, một mình đối kháng lại mọi sự nghi kỵ và toan tính nơi triều đình.
Cũng nhìn thấy người ngồi trên long ỷ—sắc mặt biến đổi, trầm mặc không nói.
Ta hiểu.
Ván cờ này—chỉ vừa mới bắt đầu.
Mà phụ thân ta, đã hạ xuống nước cờ đầu tiên— cứng rắn nhất.
Quyết liệt nhất.
20
Yến tiệc, cuối cùng tan trong không khí lạnh lẽo và ngột ngạt.
Tiêu Cảnh Diễm rốt cuộc không đồng ý lời thỉnh cầu của phụ thân ta, cũng không xử phạt tên ngự sử Trương Khiêm kia.
Hắn chỉ nhàn nhạt nói một câu:
“Trương khanh là ngôn quan, lấy lời đồn tấu sự vốn là bổn phận, dẫu có điều không thỏa đáng, cũng tình lý có thể tha thứ.”
Một câu nhẹ bẫng, liền gạt bỏ toàn bộ mọi chuyện.
Thật là một câu “tình lý có thể tha thứ” khéo léo đến mức cay nghiệt.
Ta ngồi trên lầu gác, nghe câu nói đó, trong lòng chỉ thấy một mảnh băng giá lạnh lẽo.
Hắn, chung quy vẫn là vị hoàng đế đa nghi kia.
Sự cứng rắn của phụ thân khiến hắn cảm thấy bị uy hiếp.
Cho nên, hắn giữ lại con chó biết sủa ấy, để luôn luôn nhắc nhở phụ thân ta, cũng nhắc nhở văn võ cả triều, rằng hắn mới là người nắm trong tay quyền sinh sát tuyệt đối.
Phụ thân không nói thêm một lời.
Ông chỉ lặng lẽ, đứng trước Tiêu Cảnh Diễm, hành một lễ quân đội thật sâu.
Rồi xoay người, sải bước rời đi.
Bóng lưng ấy, mang theo một thứ kiêu ngạo quyết tuyệt, không cần lên tiếng cũng khiến người người kính phục.
Tối hôm đó, phụ thân phá lệ vào cung, đến thăm ta tại Thừa Quang điện.
Tất nhiên, cũng là được Tiêu Cảnh Diễm đặc chuẩn.
Ta cho lui hết cung nhân, tự tay pha cho ông một ấm trà thô từ biên quan, thứ trà mà ông yêu thích nhất.
Mùi trà đậm và đắng, nhưng lại hậu vị sâu xa.
Tựa như phong cốt của người Giang gia chúng ta—kiên cường, hàm hậu, thẳng thắn mà không phô trương.
Phụ thân nhìn ta, nhìn căn cung điện hoa lệ nhưng giá lạnh này, thật lâu, mới thở dài một tiếng thật sâu.
“A Ninh, con đã chịu khổ rồi.”
Đó là câu đầu tiên ông nói khi gặp lại ta.
Khoảnh khắc ấy, hốc mắt ta lập tức đỏ hoe.
Ta gắng gượng không để nước mắt rơi, lắc đầu.
“Con gái không khổ.”
Phụ thân đưa bàn tay dày dạn vết chai và đầy sẹo của ông, nhẹ nhàng đặt lên đỉnh đầu ta.