Chương 1 - Mái Nhà Mới Giữa Làng Quê
Năm thứ hai mẹ mất, bố tôi cưới mẹ kế.
Mẹ kế không cần gì cả, chỉ yêu cầu bố đừng nuôi tôi nữa.
Bà ta nói:
“Con bé này, hoặc là anh đưa về quê cho bố mẹ anh nuôi, hoặc là tôi tìm nhà khác nuôi nó.”
Bố không nói gì, bà ta lại bồi thêm:
“Nó là con gái mà, nếu là con trai thì tôi đã chẳng nói thế. Tôi cưới về không đòi sính lễ, chỉ có mỗi yêu cầu này, chẳng lẽ cũng không được sao?
Anh đưa nó về quê, để bố mẹ anh nuôi đến mười tám tuổi, sau đó gả đi còn đổi được ít tiền sính lễ. Tôi sẽ sinh cho anh một đứa con trai, vừa khéo để thằng bé dùng.”
Bố vẫn im lặng, nhưng tôi biết, ông đã động lòng.
1
Cuối cùng bố vẫn không nói ra hai chữ “đồng ý”, nhưng sáng hôm sau, tôi đã bị đưa đến bến xe.
Chiếc xe lắc lư chạy đi, tôi quay đầu lại nhìn, thấy bố đang nắm tay mẹ kế rời đi.
Một lúc lâu sau, tôi lại ngoái đầu, cả thành phố đã mờ nhạt thành vài chấm nhỏ.
Con đường cũng không còn bằng phẳng, những cú xóc nảy khiến nước mắt tôi ngày một nhiều, tầm nhìn cũng dần nhòa đi.
Không giống như bố, còn chưa đợi xe đến cổng làng, từ xa tôi đã thấy ông bà nội.
Họ cũng nắm tay nhau, nhưng không phải để tiễn tôi đi, mà là đến đón tôi.
Xe dừng lại, bụi đất bốc lên mù mịt, bà nội vội vàng bước nhanh như chạy về phía tôi.
Ông bà dắt tôi về nhà, ba người cứ thế đi mãi, tôi như thể lại có một mái nhà.
Tôi cũng nhanh chóng chuyển trường, vào học ở trường làng.
Nhưng làng quê hoàn toàn khác thành phố.
Khác với tốc độ nói chuyện chậm rãi của ông bà, thầy cô và bạn bè ở đây nói chuyện nhanh như gió, như thể sợ tôi nghe hiểu.
Tại đây, chất giọng phổ thông chuẩn của tôi trở thành “dị biệt”.
Mỗi lần tôi phát biểu trong lớp, các bạn trai lại nhại giọng tôi the thé, còn các bạn gái thì bịt miệng cười khúc khích.
Lúc đó mặt tôi đỏ bừng, nước mắt rưng rưng nơi khóe mắt, nhưng không dám rơi.
Bởi vì tôi biết, nếu khóc, lại sẽ bị trêu là “đồ mít ướt”.
Nước mắt tôi trở thành công cụ để họ chế giễu.
Tôi gom hết dũng khí kể với cô giáo:
“Cô ơi, các bạn trêu con vì cách con nói chuyện.”
“Với cả, họ còn nói bố con không cần con nữa.”
Giọng tôi rất nhẹ, nhẹ như lông vũ, còn chưa kịp bay đến chỗ cô giáo thì đã bị tiếng chuông vào lớp nhấn chìm.
Cô giáo chỉ qua loa dặn một câu “mọi người phải đoàn kết yêu thương”, rồi ôm giáo án rời đi.
Những trò bắt nạt lên đến đỉnh điểm trong giờ thể dục.
Lúc chia nhóm nhảy dây, chẳng ai muốn chung đội với tôi.
Chu Vĩ cầm đầu reo hò:
“Đồ yếu đuối thành phố, biết nhảy không đấy? Coi chừng ngã rồi khóc đòi bố, ồ đúng rồi, bố mày đâu còn cần mày!”
Tiếng cười vang lên, thầy giáo thể dục chỉ thổi còi:
“Đừng quậy nữa, mau chia nhóm!”
Tan học hôm đó, tôi bị chặn sau lò gạch cũ.
Chu Vĩ giật lấy vở bài tập của tôi, nhại lại giọng tôi:
“Bố của tôi ——”
Nó cố ý dừng lại, trợn mắt làm trò:
“—— không cần tôi nữa!”
Quyển vở bị ném vào rãnh nước bẩn bên cạnh.
Tôi lao tới định nhặt, thì bị xô ngã xuống đất.
Ngay khi họ chuẩn bị làm tới, một tiếng quát vang trời dội lại:
“Làm gì đấy!”
Ông nội tôi như một ngọn tháp sắt bất ngờ xuất hiện, tay cầm cây đòn gánh gõ “bộp” xuống đất. Ánh chiều tà viền lên tấm lưng còng của ông ánh vàng giận dữ.
Lũ trẻ sợ đến hồn vía lên mây.
Ông không đuổi theo, chỉ bước đến, dùng bàn tay chai sạn như vỏ cây kéo tôi đứng dậy, phủi sạch đất trên người.
Rồi cúi xuống, tự tay vớt quyển vở nát bấy lên từ rãnh nước.
Ông không hỏi gì, chỉ nói hai chữ:
“Về nhà.”
Trong bếp, bà nội thấy lòng bàn tay tôi sưng đỏ, quyển vở dính đầy bùn, mắt bà đỏ hoe.
Bà không mắng ai, chỉ mang nước ấm, nhẹ nhàng lau cho tôi.
“Con à,”
Giọng bà rất dịu dàng.
“Ở nhà mình, không ai được phép bắt nạt con. Dù trời có sập, ông bà già này cũng sẽ gánh cho con trước.”
Ông nội cúi đầu húp cháo, cuối cùng lên tiếng:
“Ngày mai, ông đưa con đi học. Tan học, ông vẫn sẽ chờ ở lò gạch đó.”
Hôm sau tan học, tôi lại bị lũ con trai kia chặn đường.
Chúng ríu rít như chim sẻ, gọi tôi là “đồ yếu đuối thành phố”.
Tôi siết chặt quai cặp, móng tay bấu vào lòng bàn tay, đau nhói.
Ngay khi một thằng cao to định đưa tay đẩy tôi, một tiếng quát vang lên:
“Làm gì thế!”
Ông nội tôi vác cuốc, như ngọn tháp đứng giữa ánh tà dương, mặt tối sầm.
Lũ trẻ lập tức tản như chim vỡ tổ.
2
Còn chưa đến cổng, tôi đã ngửi thấy mùi thơm từ bếp bay ra.
Bà nội đeo tạp dề đang bận rộn bên bếp, nghe tiếng bước chân, bà lau tay bước ra, tự nhiên đón lấy cặp sách của tôi.
“Về rồi à? Đói chưa?”
Bà sờ trán tôi.
“Sáng nay ông mày còn đi chợ mua thịt, nói là phải bồi bổ cho con.”
Bữa tối hôm ấy phong phú hơn thường ngày.
Ngoài trứng rán, bí đao hầm, còn có cả một đĩa thịt kho nâu óng ánh.
Ông nội gắp miếng thịt to nhất vào bát tôi:
“Ăn nhiều vào. Ông thấy dạo này con cứ ủ rũ, chắc ở trường bị bắt nạt rồi?”
Mũi tôi cay xè, nước mắt rơi tõm vào bát:
“Họ nhại giọng con, còn nói bố không cần con nữa…”
Bà nội kéo ghế lại gần, giọng nhẹ nhàng:
“Chuyện của bố con là do ông ấy hồ đồ. Nhưng ở nhà mình, con là bảo bối trong tim ông bà.”
Bà lại múc cho tôi muỗng trứng.
“Miệng thiên hạ là do họ rảnh quá. Nếu con để bụng, chẳng phải đang lấy lỗi người khác để trừng phạt chính mình sao, ngốc quá!”
Ông nội đặt đũa xuống, nhìn tôi nói:
“Con gái, nhớ lời ông—— nhà mình không gây chuyện, nhưng cũng không được sợ chuyện. Càng né tránh, họ càng lấn tới.”
“Vậy con phải làm sao…”
“Bữa sau ai bắt nạt con,”
Bà nội ghé sát, hạ giọng:
“Con cứ thẳng lưng, trừng mắt đáp lại! Dùng giọng quê mình, lớn tiếng hỏi nó ‘mày nói gì?’, cho nó biết con không dễ bắt nạt!”
Bà vỗ lưng tôi.
“Con gái mà ăn thêm vài bát cơm, lớn lên khỏe mạnh, cũng bảo vệ được chính mình!”
Tối hôm đó, tôi ăn hai bát cơm đầy, vét sạch đồ ăn trong bát.
Dạ dày ấm áp, nỗi tủi thân trong lòng dường như cũng bị lấp đầy.
Sáng hôm sau, giờ ra chơi, tên Chu Vĩ lại bắt chước tôi đọc bài.
Tôi siết chặt nắm tay, nhớ lời bà nội, hít sâu một hơi, quay người lại, đứng thẳng lưng, dùng tiếng quê vừa học được, lớn tiếng nói:
“Chu Vĩ! Mày vừa nói cái gì? Có gan thì nói lại lần nữa!”
Xung quanh lập tức im phăng phắc.
Chu Vĩ há miệng, mặt đỏ bừng, cuối cùng lẩm bẩm: “Chán chết”, rồi kéo lũ bạn bỏ đi.
Tan học, tôi chạy một mạch về nhà, lao vào sân hét lớn:
“Bà ơi! Hôm nay con không khóc! Con dọa tụi nó chạy mất rồi!”
Bà nội đặt thau cám xuống ôm tôi, cười đến mức nếp nhăn nơi khóe mắt xếp chồng lên nhau:
“Tốt! Tốt! Con bà giỏi lắm!”
Ông nội ngồi xổm ở ngưỡng cửa cuốn thuốc, ngẩng đầu cười với tôi, vẫn không nói gì.
Nhưng tôi biết, ông hiểu tất cả.
3
Từ hôm đó, tôi hiểu rằng ngôi nhà nơi thành phố ấy đã chẳng thể quay về nữa.
Nhưng trong sân nhỏ nơi làng quê này, nơi vẫn vương khói bếp mỗi chiều, ông bà đang từng chút một, bằng cách giản dị nhất của họ, dựng lên cho tôi một bầu trời mới.
Kể từ lần phản kháng Chu Vĩ dưới sự khích lệ của ông bà, những ngày tháng ở trường trở nên dễ thở hơn nhiều.
Các bạn không còn trắng trợn chặn đường tôi nữa, nhưng cảm giác bị cô lập mơ hồ vẫn âm ỉ như làn sương mỏng đầu đông, quẩn quanh chẳng tan.
Bước ngoặt đến vào một buổi chiều tưởng chừng chẳng có gì đặc biệt.
Chuông tan học vừa reo, tôi đang cúi đầu thu dọn sách vở thì có một bóng người dừng lại bên bàn.
Là cô giáo mới – cô Linh.
Cô cúi xuống, giọng nói nhẹ nhàng, chỉ đủ để tôi nghe thấy:
“Cô đọc bài văn trước đây của em rồi, viết rất có hồn. Tan học có rảnh không? Giúp cô mang mấy cuốn vở này lên văn phòng nhé.”
Tôi sững người một chút, rồi gật đầu.
Tôi đi sau cô Linh, băng qua hành lang vắng. Cô như vô tình nói:
“Thứ hai tuần sau lớp mình phụ trách tiết ‘Phát biểu dưới cờ’. Cô thấy giọng em rất dễ nghe, phát âm chuẩn, muốn mời em phát biểu, được không?”
Tim tôi đập mạnh, ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh mắt dịu dàng nhưng kiên định của cô.
Lần đầu tiên, có một giáo viên để ý đến tôi không phải vì tôi “đặc biệt”, mà là vì tôi “phù hợp”.
Bản thảo bài phát biểu ấy, cô Linh cùng tôi sửa đến ba lần.
Trong văn phòng, cô tỉ mỉ sửa từng cách phát âm, chỉ tôi chỗ nào nên ngừng, chỗ nào cần cảm xúc.
“Đừng sợ,”
Cô nói,
“Cứ coi mọi người dưới sân là rau củ cả, chỉ có em là người kể chuyện duy nhất.”
Sáng thứ hai, tôi cầm bản thảo thấm mồ hôi tay, đứng trước toàn trường.
Chân tôi hơi run, cảm giác như hàng trăm ánh mắt đang xuyên qua mình.
Ngay lúc tôi căng thẳng đến mức suýt quên cả phần mở đầu, tôi nhìn thấy cô Linh ở cuối đám đông, nhẹ nhàng gật đầu với tôi.
Tôi như được tiếp thêm sức mạnh, bài phát biểu trôi chảy một cách bất ngờ.
Cùng lúc đó, cô Linh làm một việc khiến cả lớp đều ngạc nhiên.
Cô tuyên bố thành lập “Nhóm hỗ trợ luyện nói chuẩn”, để tôi làm tổ trưởng, nhiệm vụ là giúp các bạn phát âm chuẩn hơn – đặc biệt là mấy cậu trai nghịch ngợm như Chu Vĩ.
“Chu Vĩ, em khỏe mạnh, thể thao giỏi, mơ làm lính bảo vệ Tổ quốc. Mà ‘bốn’ với ‘mười’ còn nói không xong thì sao được?”
Cô Linh nửa đùa nửa thật gọi tên cậu ấy.
Chu Vĩ đỏ mặt tía tai, miễn cưỡng bị xếp vào nhóm của tôi.
Lúc đầu, cậu ta gân cổ lên không chịu phối hợp.
Tôi bắt đầu từ những con số đơn giản “một hai ba bốn”, kiên nhẫn đọc mẫu nhiều lần. Cậu lặp lại một cách ậm ừ, khiến mấy bạn khác trong nhóm cười phá lên, bản thân cậu cũng ngượng ngùng gãi đầu.
Dần dần, mọi thứ thay đổi.
Giờ ra chơi, có bạn gái chạy tới hỏi tôi cách đọc một từ. Trên đường tan học, những đứa trẻ cùng làng khi gặp tôi sẽ cố gắng chào bằng tiếng phổ thông còn nặng giọng địa phương:
“Về nhà rồi hả?”
Dù còn vụng về, nhưng đó là một sự đón nhận đầy chân thành.
Ngày tốt nghiệp tiểu học, sau khi chụp ảnh lưu niệm, cô Linh gọi tôi ra một góc, đưa tôi một quyển sổ tay mới tinh, trang đầu viết một dòng chữ:
“Hãy giữ vững ánh sáng của em, phía trước là bầu trời sao rực rỡ.”
“Cấp hai phải lên thị trấn, phải ở nội trú rồi, nhớ chăm sóc bản thân nhé.”
Cô vỗ vai tôi.
“Em rất tuyệt, mạnh mẽ hơn những gì em từng nghĩ.”
Tôi ôm quyển sổ, cổ họng nghẹn ứ, chỉ có thể gật đầu thật mạnh.