Chương 2 - Mưa Giữa Hai Tình Yêu
6
Ta ngửi thấy mùi phấn son thanh ngọt trên xiêm y của nàng ta.
Cơn giận vô cớ bùng phát, ta giống như người mẹ hung dữ trong miệng Trịnh Du, ném sạch những thứ vụn vặt đã mua ra ngoài sân.
Ta túm lấy Trịnh Hoài Thư, đẩy hắn vào màn mưa, rồi lạnh lùng chỉ tay vào Trịnh Du: “Cả ngươi nữa, cút đi.”
Giang Dung che cây dù giấy thanh sắc, yếu ớt che mưa cho hai cha con.
Trịnh Hoài Thư hờn dỗi với ta, cũng chẳng thèm nói lời dỗ dành. Hắn bế Du nhi, cùng Giang tiểu thư đứng chung dưới dù, sóng bước bên nhau trong màn mưa, dần dần đi xa.
Trịnh Hoài Thư có nhiều lối thoát.
Huyện lệnh đại nhân nghe chuyện hắn bị người vợ hung hãn đuổi khỏi nhà, liền vung tay cấp cho một gian phòng, lại tặng thêm không ít bạc trắng để hắn chuyên tâm đèn sách.
Hắn vừa đến thư viện đã được chúng tinh ủng nguyệt.
Vị tiên sinh đang sai bảo người khác thấy hắn liền tươi cười rạng rỡ, người đứng sau lưng vị tiên sinh đó cứ lầm lũi đi theo mãi.
Có kẻ hỏi Trịnh Hoài Thư: “Trịnh huynh, không cần bận tâm Tống Bảo Ngọc đó, trông thì học rộng tài cao nhưng thực chất chỉ là một kẻ ngốc nói năng không nên lời thôi.”
“Nghe đâu sắp lấy vợ rồi, đang đòi tiền công của tiên sinh kìa.”
Về Tống Bảo Ngọc, Trịnh Hoài Thư có biết.
Một bài văn của hắn từng khiến tiên sinh đập bàn khen tuyệt, sau khi truy hỏi mới biết là học trò nhờ Tống Bảo Ngọc viết hộ.
Tiếc thay tiên sinh là kẻ hẹp hòi, dùng văn của Tống Bảo Ngọc, trả vài đồng bạc lẻ rồi đi khoe khoang khắp giới văn nhân.
Ai bảo chàng nội tâm mộc mạc, chỉ đành chịu thiệt thòi.
Kẻ chịu thiệt trước đó chính là Trịnh Hoài Thư.
Người đọc sách thanh cao lại trọng mặt mũi, lúc hắn nghèo nhất, tiên sinh không chịu trả tiền viết văn, đến tiền chôn cha cũng không có.
Chính Hoàng Liễu đã vung dao đại náo nhà tiên sinh, hắn mới lấy được bạc.
Nghĩ đến Hoàng Liễu, lòng Trịnh Hoài Thư thoáng chút u ám.
Nay hắn đã là cử nhân, sẽ không còn cảnh quẫn bách như xưa. Hắn thong dong bước vào trong giữa đám đông vây quanh, chẳng thèm nể mặt tiên sinh lấy một lần.
Lúc lướt qua Tống Bảo Ngọc, hắn nghe kẻ ngốc này tranh luận với tiên sinh một câu: “Không phải nương tử bảo ta đến đòi tiền. Nàng là người rất tốt. Nhưng ta vào ở nhà nàng, không thể đi tay không được.”
Mọi người cười ồ lên: “Hèn chi ngươi nghèo kiết xác mà vẫn lấy được vợ, hóa ra là đi ở rể!”
Cười xong, họ bỗng nhớ ra vị Trịnh cử nhân đang được họ tâng bốc đây cũng từng là rể ở rể.
Trịnh Hoài Thư cười nhạt, bước tiếp nhưng trong tay áo nắm chặt nắm đấm.
Dù cùng là ở rể nhưng vận mệnh mỗi người mỗi khác.
Tống Bảo Ngọc sẽ không gặp được người nương tử tốt bụng hết lòng như Hoàng Liễu. Còn hắn, Trịnh Hoài Thư, sẽ từng bước thăng tiến.
Đợi hắn lên kinh bảng vàng đề danh, sẽ đường hoàng quay về rước Hoàng Liễu. Lúc đó sẽ chẳng còn ai nhắc lại quãng thời gian ở rể nhục nhã của hắn nữa.
Cãi vã bao nhiêu lần đi nữa, Hoàng Liễu vẫn yêu hắn nhất, vẫn là vợ của hắn.
Từ xa, hắn lại nghe thấy một câu: “Nương tử ta chính là chấm ta rồi.”
7
Hai ngày sau trời tạnh hẳn, Tống Bảo Ngọc dắt con gái đến ở rể.
Cô bé Tống Tú ôm cây dù, tóc buộc dây đỏ thật đáng yêu. Tống Bảo Ngọc đeo tay nải, hai cha con cùng bước vào cửa.
Ta chỉ vào cái tủ gỗ trong phòng, bảo chàng xếp đồ đạc vào.
Chàng vụng về, cuống đến đỏ cả cổ, lắp bắp mãi mới thốt ra được một câu thẹn thùng: “Cho nương tử.”
Ta thầm tò mò, thấy chàng bày đồ trong tay nải lên bàn: một đôi nến đỏ khắc hình long phụng thô sơ; một chiếc trâm vàng kiểu dáng khá đặc biệt; mấy sấp vải tươi tắn đang thịnh hành…
Tống Bảo Ngọc lấy túi tiền trong ống tay áo ra, đặt cùng lên bàn: “Đều là của nương tử.”
Ta vốn là kẻ phàm phu tục tử, mở túi tiền ra trước, suýt nữa thì lóa mắt vì ánh vàng kim. Đó là một thỏi vàng ròng.
Chẳng thấy vui mừng, chỉ thấy kinh ngạc. Bà mai nói Tống Bảo Ngọc nghèo rớt mồng tơi, nuôi không nổi con mới đi ở rể, vậy những thứ này từ đâu mà ra?
Thấy ta chau mày mím môi, hai cha con đều sợ sệt cúi đầu.
“Tống Bảo Ngọc, ta hỏi chàng tiền bạc này ở đâu ra?”
Chàng thật thà khai báo: “Ngọc bội. Ta đã cầm miếng ngọc bội rồi.”
Ta lại hỏi: “Ngọc bội ở đâu ra?”
“Cha mẹ để lại. Đến chỗ nương tử, không thể đi tay không.”
Hóa ra là bảo vật gia truyền.
Chàng sao lại nỡ lòng nào chứ?
Đến như Trịnh Hoài Thư năm đó còn biết giữ lại ít bạc cho riêng mình. Tiền ta giành giật mang về, hắn đều tự thu giữ.
Lúc đó nghĩ là phu thê, bạc để chỗ ai cũng vậy, nay nghĩ lại, chung quy từ trong tâm ý đã có sự khác biệt.
Ta không khách sáo lượng thử sức nặng của túi tiền, thấy cũng không nhẹ liền thắt bên hông cho đẹp lòng một chút.
Tống Tú đứng một bên lặng lẽ cười ngây ngô, dây đỏ trên tóc vẫy vẫy trông như một con búp bê cầu phúc. Bỗng bụng con bé ‘ọc ọc’ một tiếng, thẹn đến mức rụt cổ, mặt đỏ bừng.
Trong bếp còn hai cân nhân thịt, ta nhào ít bột, gói một lồng sủi cảo.
Tống Bảo Ngọc phụ trách chẻ củi nhóm lửa. Đợi nước sôi ùng ục, hơi nóng bốc lên mặt, từng chiếc sủi cảo béo tròn được thả vào nồi.
Chẳng mấy chốc, lớp vỏ bột đã trở nên bóng bẩy, nước canh nổi váng mỡ. Tống Tú ngồi xổm bên cửa lò, nuốt nước miếng liên tục nhưng vẫn im lặng, không hề quấy rầy.
Ta vớt trước một chiếc ra bát, đưa cho con bé: “Con nếm thử xem chín hẳn chưa?”
Tống Tú thổi mấy cái rồi vội vàng cắn một miếng, mắt sáng rực, nuốt chửng cả chiếc vào bụng.
Sau đó con bé lại xụ mặt, hối hận vì mình ăn quá nhanh: “Đáng lẽ con nên nhai kỹ thêm mấy cái nữa.”
Nói xong, con bé lại rụt rè ngước nhìn ta: “Mẹ, bụng con nhỏ, ăn một cái là no rồi.”
Ta sững người, chắc là những lời giận dữ hôm đó đã lọt vào tai con bé.
Ta xoa trán nó, lấy muôi đảo nồi sủi cảo: “Cả nồi này ba người chúng ta chia nhau. Ăn không hết ta sẽ đổ đi, con ăn thêm vài cái nữa đi.”
Tống Tú ngước khuôn mặt nhỏ nhắn, ngón tay đan vào nhau: “Thật sao ạ? Mẹ, người thật lợi hại, có thể mua được nhiều thịt như vậy. Người là người lợi hại nhất mà A Tú từng thấy.”
Ta mỉm cười nhạt, mắt hơi ươn ướt vì hơi nóng của canh: “Ăn được miếng thịt thì có gì là bản lĩnh? Đợi con lớn lên, có lẽ con sẽ thấy sủi cảo nhân thịt chẳng ngon bằng bánh ngọt đâu.”
Tống Tú chậm rãi dịch lại gần, nắm lấy tay áo ta: “Mẹ, nếu thật sự có ngày đó, là do A Tú không xứng với sủi cảo của người.”
Phải rồi, sủi cảo ta làm bao năm vẫn vị đó, kẻ chê nó không ngon bằng bánh ngọt chính là bản thân hắn đã thay đổi. Ta hà tất phải tự oán trách mình?
8
Trời sập tối, đôi nến long phụng thắp lên sáng rực, nước nến nhỏ từng giọt. Chăn nệm đều là đồ mới.
Ta tựa lưng vào tường, gối đầu lên tay, lòng dạ rối bời.
Tuy đã ký giấy hưu phu nhưng những năm tháng chung sống với Trịnh Hoài Thư là thật, ta cũng tự hỏi liệu mình có quyết định quá vội vàng không.
“Nương tử…”
Góc chăn bị lật lên, một luồng gió lạnh lùa vào, nhưng ngay sau đó, một lồng ngực ấm áp áp sát vào lưng ta. Hình như… hình như không mặc y phục, khiến lòng ta rạo rực.
Bao nhiêu Trịnh Hoài Thư, Lý Hoài Thư gì đó đều quên sạch bách. Ta có chút thèm thuồng, nhưng cũng có chút thẹn thùng.
Ta không động đậy, chàng liền áp sát, hơi thở nóng hổi phả vào sau gáy ta, vừa gấp gáp vừa ẩm ướt.
Kẻ ngốc này chỉ biết dùng môi mơn trớn trên da thịt. Chàng nắm lấy tay ta, đan chặt vào nhau, rồi chẳng biết làm thế nào tiếp, cứ hừ hừ khó chịu.
“Nương tử, ta không biết rõ lắm. Nàng dạy ta một lần đi.”
Đầu óc ta cũng mê muội vì hơi nóng, lẩm bẩm hỏi: “Thế nương tử trước kia của chàng thì sao? Chàng cứ làm như trước kia là được.”
“Không có, trước đây ta không có nương tử.”
Ta sốt ruột, xoay người mắng một câu: “Đồ vô dụng.”
Chàng quả thực không mặc y phục, bị ta hôn một cái liền run rẩy dữ dội, mắt đong đầy màn sương nước đáng thương.
Chẳng còn cách nào, ta đành làm “tiên sinh” một lần, dạy chàng đến đỏ mặt tía tai. Cuối cùng chàng lật ngược tình thế, khiến ta chẳng thể thốt thêm được tiếng “vô dụng” nào nữa.