Chương 6 - Món Quà Trung Thu Bí Ẩn
11 Cuối cùng tôi chọn định cư tại một thành phố biển ấm áp ở phương Nam. Tôi dùng một phần tiền bán nhà mua một căn hộ nhỏ không lớn nhưng tràn ngập ánh nắng, đẩy cửa sổ ra là có thể nhìn thấy biển xanh thẳm không xa. Nhịp sống ở đây rất chậm, tình người rất đậm đà. Tôi nhanh chóng hòa nhập vào cuộc sống nơi đây. Tôi đăng ký lớp tranh quốc họa và lớp múa dân tộc của trường đại học dành cho người cao tuổi trong cộng đồng, tìm lại những sở thích từng phải từ bỏ vì bươn chải cuộc sống thời trẻ. Những bức tranh của tôi, từ chỗ ban đầu còn vụng về, đến sau này dần dần có phong cách riêng, thậm chí còn đạt được một giải thưởng nhỏ trong triển lãm tranh của cộng đồng. Những điệu múa của tôi cũng ngày càng ra dáng, cùng một nhóm chị em mới quen tạo thành một cảnh sắc rực rỡ nhất trong khu chung cư. Tôi không còn là Lý Thục Phân chỉ biết quanh quẩn bên bếp núc và con trai nữa. Tôi đã tìm lại được chính mình.
Tôi đem số tiền còn lại, một phần đầu tư tài chính bền vững, đủ để tôi an hưởng tuổi già. Phần còn lại, tôi lấy danh nghĩa người chồng quá cố của mình, thành lập một quỹ khuyến học nhỏ, chuyên giúp đỡ những đứa trẻ có hoàn cảnh giống tôi, trong gia đình đơn thân nhưng có thành tích học tập xuất sắc. Mỗi khi nhận được thư cảm ơn từ những đứa trẻ đó, nhìn thấy nụ cười tràn đầy hy vọng của chúng, cảm giác mãn nguyện và hạnh phúc mà tôi nhận được là thứ Trần Vũ chưa bao giờ cho tôi. Đây mới là giá trị của tôi, là nơi tiền của tôi nên thuộc về.
Thỉnh thoảng, tôi cũng nghe được vài tin tức về Trần Vũ và Vương Lệ từ những người bạn ở quê. Vương Lệ cuối cùng vì tội xúi giục gây rối trật tự công cộng và cưỡng đoạt tài sản không thành, phạm nhiều tội cùng lúc, bị kết án một năm tù có thời hạn. Sau khi ra tù, cuộc đời cô ta cũng tiêu tùng, chỉ có thể làm việc lặt vặt trong mấy quán ăn nhỏ, sống rất túng quẫn. Ngày tháng của Trần Vũ lại càng thê thảm hơn. Nó không việc làm, không gia đình, gánh trên vai một đống nợ nần, vật lộn khổ sở ở tầng lớp đáy của xã hội. Nghe nói sau này nó đi bốc vác ở công trường, vì không chịu được khổ, làm được mấy ngày lại chạy, cuối cùng chỉ có thể dựa vào việc làm thuê làm mướn lặt vặt để sống qua ngày, cả người trở nên già nua và suy sụp. Nghe thấy những tin tức này, lòng tôi không còn nổi lên một chút gợn sóng nào nữa. Tôi không hả hê, cũng không mảy may thương hại. Cuộc đời của bọn họ là kết quả do chính bọn họ lựa chọn. Còn tôi, cũng nhờ trút bỏ được gánh nặng từ bọn họ mà đón nhận mùa xuân thứ hai của cuộc đời.
Luật sư Tôn, người bạn cũ của tôi, cùng vài bà bạn thân đã đặc biệt bay tới thăm tôi. Nhìn thấy tôi mặc bộ váy múa sặc sỡ, cười rạng rỡ dưới ánh nắng, bọn họ đều kinh ngạc. “Thục Phân, bây giờ trông bà còn trẻ hơn, đẹp hơn cả mười năm trước đấy!” Tôi cười, mời bọn họ tới nhà hàng ven biển ăn hải sản tươi sống nhất. Trong bữa tiệc, chúng tôi trò chuyện về quá khứ, hiện tại và tương lai. Tôi đã viết một cuốn nhật ký, ghi lại hành trình tâm lý từ một người mẹ nhẫn nhịn trở thành một người phụ nữ độc lập sống cho chính mình. Tôi viết trên trang bìa của cuốn nhật ký rằng: “Một người phụ nữ, trước tiên phải là chính mình, sau đó mới là người mẹ, người vợ, người con gái. Học cách yêu chính mình mới là khởi đầu của một sự lãng mạn trọn đời.” Tôi cuối cùng đã hiểu ra, sự cứu rỗi thực sự không đến từ sự sám hối của người khác, mà bắt nguồn từ sự tỉnh ngộ và buông bỏ của chính mình.
12 Một mùa xuân vài năm sau, tôi nhận được một bức thư. Bức thư gửi tới từ một thành phố nhỏ xa xôi mà tôi chưa từng nghe tên, người gửi là Trần Vũ. Giấy viết thư là loại giấy kẻ ngang rẻ tiền nhất, nét chữ nguệch ngoạc, đầy vẻ phong trần. Thư rất dài, nó mô tả chi tiết những lận đận và túng quẫn của mình những năm qua Nó nói, nó đã làm đủ loại công việc, từng bị người ta lừa, cũng từng bị người ta bắt nạt, nếm trải đủ thói đời nóng lạnh, nhân tình thế thái. Nó nói, bây giờ nó cuối cùng đã hiểu ra những hy sinh của tôi khi xưa đáng quý biết bao, còn hành vi của nó thì ngu xuẩn và khốn nạn nhường nào. Cuối thư, nó dùng một đoạn dài để bày tỏ sự sám hối và nỗi nhớ nhung đối với tôi, nó nói mỗi ngày nó đều sống trong hối hận, nếu cuộc đời có thể làm lại, nó nhất định sẽ không đối xử với tôi như vậy nữa. Tôi đọc hết cả bức thư từng chữ một, sau đó bình thản gấp nó lại, cất vào ngăn kéo dưới cùng của bàn làm việc. Tôi không hồi âm. Vết thương quá khứ dù đã đóng vảy, nhưng vết sẹo sẽ mãi mãi còn đó. Tha thứ, quá nặng nề. Tôi chọn cách buông xuống.
Lại qua một thời gian nữa, tôi nghe bạn bè ở quê nói, mẹ của Vương Lệ là Trương Mai vì chuyện con gái vào tù, con rể túng quẫn mà không ngẩng đầu lên nổi trước mặt họ hàng hàng xóm, cộng thêm không có người chăm sóc nên ngày tháng trôi qua rất thê lương, thường ngồi một mình trước cửa nhà thở dài vắn dài. Đứa con gái và con rể từng là niềm tự hào của bà ta, cuối cùng đều trở thành gánh nặng và trò cười lớn nhất tuổi già của bà ta. Tất cả những điều này tôi chỉ bình thản lắng nghe, như đang nghe một câu chuyện không liên quan gì đến mình. Bởi vì, tôi đã sớm giành lại được tôn trọng và hạnh phúc cho mình, không còn canh cánh trong lòng vì những “bất công” trước đây nữa.
Vào một buổi chiều nắng đẹp, tôi đang phác thảo bên hồ trong công viên. Gió xuân ấm áp thổi vào mặt rất dễ chịu. Một vị tiên sinh tóc đã bạc nhưng tinh thần còn minh mẫn, chống gậy đứng sau lưng tôi rất lâu. “Chị à, bức tranh này của chị vẽ thật có hồn.” Ông ấy mỉm cười lên tiếng, giọng nói ôn hòa và nho nhã. Tôi quay đầu lại, bắt gặp ánh mắt tán thưởng của ông ấy, cũng đáp lại bằng một nụ cười. Ánh nắng rắc lên bảng vẽ của tôi, rắc lên mặt hồ sóng sánh, và cũng rắc vào đáy lòng tôi. Cuộc đời tôi, ở tuổi già, cuối cùng đã do chính tôi viết nên, vẽ ra một dấu chấm tròn đầy và tĩnh lặng. Từ nay về sau, mỗi ngày của tôi đều chỉ thuộc về chính tôi.