Chương 4 - Mãn Hoa Nhi và Cuộc Sống Mới Tại Trần Phủ
Nhà tuy đơn sơ nhưng được dọn dẹp sạch bong.
Bên ngoài thì nói là đã chuộc ta về, ngày thường cực kỳ ít ra cửa, nên không ai biết đây lại là đại tiểu thư của Trần phủ.
Sau này nghe tin sắp đánh trận, đệ đệ phản ứng nhanh, sợ có người tìm đến cửa.
Nó liền bỏ lại nhà cửa ruộng vườn, cả nhà dắt díu nhau lên thành phố làm việc.
Dù sao làm thợ mộc thì nay đây mai đó, giấu tiểu thư kỹ đến mức không ai tìm ra.
Thậm chí binh sĩ Phu nhân phái đi cũng phải mất nửa năm mới tìm thấy họ.
Đệ đệ gãi gãi đầu ngượng nghịu: “Con chỉ sợ người đến là kẻ thù.”
Phu nhân mỉm cười an ủi: “Cũng nhờ sự lanh lợi này của con, phòng bệnh hơn chữa bệnh, nếu không chẳng biết sẽ xảy ra biến cố gì đâu.”
Hôm ấy Công tử tan sở về, nói với chúng ta rằng.
Tổng đốc đại nhân nghe nói nhà huynh ấy mở tiệm điểm tâm, muốn tới nếm thử, bảo chúng ta chuẩn bị cho tốt.
Cai Âm vâng lời, cùng bà cụ ra chợ chọn mua nguyên liệu, còn ta ở lại trông tiệm.
Hai mẹ con họ ngày càng thân thiết, lần nào rủ nhau đi chợ cũng phải đi cho đã mới về.
Tay xách nách mang mua đủ thứ đồ, ta chẳng muốn góp vui vào cái sự náo nhiệt ấy.
Khó khăn lắm mới chuẩn bị xong một bàn đầy hoa quả điểm tâm, nhưng đợi mãi, Công tử lại lủi thủi về một mình.
Hỏi huynh ấy sao Tổng đốc không tới?
Huynh ấy bảo cũng chẳng rõ làm sao, đại nhân đi tới bên suối Phước Tuyền, mắt thấy sắp tới nhà rồi.
Bỗng nhiên người lại quay đầu đi thẳng, không tới nữa.
Cũng chẳng biết đã đắc tội với người ở chỗ nào.
Vội vàng đuổi theo hỏi, người lại bảo không có gì, thật đúng là không hiểu nổi.
Ông cụ chủ nhà an ủi huynh ấy: “Chắc là đột nhiên có việc gấp phải về thôi, chúng ta đừng đoán mò nữa.”
“Đợi đến lúc con và Cai Âm thành thân, hãy mời các đại nhân tới góp vui sau.”
Chuyện thành thân của Cai Âm, chúng ta đã gửi thư xin chỉ thị của Phu nhân.
Phu nhân gửi cả thân khế của Cai Âm tới.
Người còn viết trong thư rằng, nếu gặp được người có duyên thì cứ gả đi.
Trần phủ chính là nhà ngoại của Cai Âm, sau này thường xuyên về thăm nhà là được.
Vì thế đến ngày thành thân, ta lại một lần nữa làm phù dâu.
Tiệm điểm tâm giăng đèn kết hoa, một phái hỉ khí lâm môn.
Ta nói với Cai Âm: “Nghe nói sớ thỉnh công cho Công tử đã đệ lên rồi, chẳng mấy chốc sẽ có hồi âm.”
“Vừa bước chân qua cửa đã thành quan phu nhân rồi, thật đúng là phúc khí tốt!”
Cai Âm nắm tay ta: “Muội chỉ mong được như Lão gia đối với Phu nhân, thế là đời này mãn nguyện rồi.”
“Phu nhân nói muội và chúng ta có duyên, quả nhiên là thật.”
“Lần này theo tỷ về phương Nam, vậy mà lại định được chung thân.”
“Theo muội thấy, phúc khí này là do tỷ mang đến cho muội mới đúng.”
“Chỉ là tỷ… haizz, còn định phiêu bạt đến bao giờ nữa đây?”
Ta mỉm cười: “Muội nói mấy lời này ta nghe chẳng hiểu gì cả.”
“Thiếu gia sánh đôi với tiểu thư nhà Định Quốc Công mới là môn đăng hộ đối.”
“Ta chỉ là một nha hoàn, có gì đâu mà phải tranh giành?”
“Huống hồ Lão gia Phu nhân đối xử với ta tốt như thế, nếu không có họ, cả nhà ta đã chết đói từ lâu rồi.”
“Còn gì mà không biết đủ nữa chứ?”
Ngày hôm đó, người ở huyện nha đều đến chúc mừng, riêng Tổng đốc chỉ gửi một bao lì xì thật lớn, người không tới.
Cai Âm gả đi rồi, tiệm điểm tâm tự nhiên trở thành của hồi môn cho muội ấy.
Vì vậy ta ở lại nửa tháng rồi xin từ biệt Công tử: “Chuyến này ta tới vốn là để làm bà mối, nay sứ mệnh đã hoàn thành, cũng đến lúc phải đi rồi!”
Cai Âm luyến tiếc không rời, ghé tai ta nói nhỏ: “Trên đường đi nếu có nhân duyên nào hợp ý thì hãy gả đi nhé! Đừng trì hoãn cả đời mình.”
Ta khẽ gật đầu đáp ứng.
Ta lại tiếp tục xuôi Nam.
Cứ cảm thấy trong lòng có một tiếng nói mách bảo rằng phương Nam vẫn còn những việc chưa hoàn thành đang đợi ta tới làm.
Ta đặc biệt ghé qua Quảng Nam phủ, đứng trước cửa Trần phủ.
À không đúng, giờ không còn là Trần phủ nữa rồi, đã đổi thành Hạ phủ.
Nghe nói là người làm kinh doanh, chẳng trách đôi sư tử đá trước cửa cũng được thay bằng hai con Tỳ Hưu lớn.
Thời thế đổi thay, con phố vẫn là con phố ấy, phiến đá vẫn là phiến đá ấy.
Dường như đã thay đổi, mà lại như chưa hề đổi thay.
Dù thế nào đi nữa, ta vẫn là ta, một Đồng Hoa thanh bạch và sạch sẽ.
Đúng vậy, để thuận tiện đi lại bên ngoài, ta đã tự đổi tên cho mình.
Cha nương gọi ta là Mãn Hoa Nhi, vào phủ, tiểu thư đổi thành Đồng Nhi.
Suốt bao nhiêu năm sau đó, mọi người đều gọi ta là Đồng Nhi.
Nhưng ra ngoài tự giới thiệu là Đồng Nhi thì có chút ngượng nghịu.
Thế là ta nhặt mỗi cái tên cũ một chữ, gọi là Đồng Hoa.
Lần này ở lại Quảng Nam phủ mười ngày, ta đi hết những con đường trước đây chưa từng đi qua.
Cũng chẳng biết Thiếu gia đã thành hôn với tiểu thư Quốc Công phủ chưa.
Một người tốt như người, tự khắc sẽ có một cô nương tốt tương xứng bầu bạn, sống một đời bình an thuận lợi.
Đi hết Quảng Nam phủ, ta lại khởi hành về Bình An phủ.
Đó là quê hương của ta, ta từ đó đến, cũng nên từ đó trở về.
Cứ thế lững thững mà đi, ta về lại nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, gõ cửa nhà bà mối.
Bà mối thấy ta thì kinh ngạc sững sờ, nhìn mãi mới nhận ra, vội vàng mời ta vào nhà:
“Nghe nói cha con đã chuộc con về, cả nhà dọn lên thành phố rồi, sao con lại về đây một mình?”
“Chẳng lẽ lại gặp khó khăn gì, định tự bán mình thêm lần nữa sao?”
Bao nhiêu năm trôi qua bà mối cũng đã già rồi.
Trước đây ta phải ngước nhìn bà, giờ đây lại phải cúi người mới nắm được tay bà:
“Con không gặp khó khăn gì cả, lần này con đặc biệt đến để cảm ơn mama.”
“Năm đó mama đã tìm cho con một nơi tốt như thế, cứu sống mạng cả nhà con, con lẽ ra phải đến tạ ơn người sớm hơn mới phải.”
Bà mối xua tay: “Đừng khách sáo, ta ở đây chỉ là người trung gian thôi.”
“Đó là do mệnh con có phúc, đi đâu cũng có phúc tinh chiếu mệnh.”
Ta hỏi bà mối hiện giờ có cô nương nào đang chờ bán mình không?
Bà mối ngạc nhiên hỏi lại, chẳng lẽ ta định đến mua người hay sao?
Bà mối liên tục niệm Phật, kể với ta rằng: “Giờ cảnh đời khá giả rồi, trong làng không còn thịnh chuyện bán con cái nữa, hiện giờ chỉ có ba đứa trẻ ở đây.”
Một đứa là do cha đánh bạc thua nên bán tới.
Một đứa là cha nương chết cả, bị chú bác đem bán.
Còn một đứa thì giống hệt ta năm đó, bán mình lấy tiền bốc thuốc cho nương.
Đều là những đứa trẻ tội nghiệp, bà mối tha thiết nhờ ta chăm sóc chúng cho tốt.
Ta lần lượt đồng ý, lấy ra năm mươi lạng bạc, dẫn cả ba cô nương đi.
Ánh mắt chúng nhìn ta rất đờ đẫn, giống hệt ta năm xưa.
Không có hy vọng, không có ánh sáng, cảm thấy dù đi đâu cũng chỉ là đường chết.
Ta thực sự đã mở một tiệm thêu trên trấn, tên tiệm do ta tự đặt, gọi là Đồng Hoa Ký.
Từ đó, ta an cư lạc nghiệp.
Ta dùng ngón nghề thêu thùa học được từ Trương mama để chống đỡ Đồng Hoa Ký.
Mới đầu chỉ thêu được vài chiếc khăn tay, mặt quạt đem bán.
Dần dần các cô nương học được nghề, chúng ta bắt đầu bán được những bức thêu lớn như bình phong, mặt chăn.
Người ở tiệm thêu ngày một đông thêm, đều là những cô nương không nơi nương tựa.
Hễ có ai bị bán đến chỗ bà mối là ta lại đi chuộc về, rồi dạy họ thêu thùa.
Có những người không có thiên phú thêu thùa, ta dạy họ làm điểm tâm, hoặc chế phấn son.
Ta còn đem những chữ mình học được từ chỗ tiểu thư, dạy lại cho họ từng chữ một.
Đợi đến khi họ học thành thạo bản lĩnh, ai muốn về nhà ta liền trả lại thân khế.
Lại tùy sức mà giúp chút tiền nong, tiễn họ về nhà.
Cứ thế lâu dần, trong làng đều bảo chỗ ta là học đường cho nữ tử.
Dân làng bắt đầu đưa con gái đến chỗ ta học nghề.
Ta rất vui, chỉ cần các cô gái có một cái nghề lận lưng thì sẽ không phải đi vào con đường bán mình nữa.
Bởi lẽ rủi ro của việc bán mình rất lớn, không phải ai cũng may mắn gặp được nhà tử tế như ta năm xưa.
Dân làng đều gọi ta là Nữ Bồ Tát, ta nào dám nhận.
Đó là nhờ vị Tuần phủ mới đến trị hạ có công, bách tính an cư lạc nghiệp, ta đâu dám tranh công với quan phủ.
Chỉ có bà mối là không mấy vui vẻ, vì không có ai bán con gái nữa nên bà chẳng kiếm được tiền.
Thế là bà chuyển sang làm bà mai, việc đầu tiên là muốn gả ta đi.
Dù sao năm nay ta cũng đã gần mười tám, ở quê đã thành gái già rồi.
Những chị em cùng tuổi với ta hầu như đều đã bế con cả rồi.
Dưới sự vận động của bà mối, ta cũng đi xem mắt vài nhà, nhưng chẳng thấy ai có duyên.
Có lẽ vì đã từng thấy qua thiếu niên tốt đẹp như ngọc kia, nhìn sang người khác, cứ thấy thiếu mất thứ gì đó.
Có lẽ, đó gọi là “nhất nhãn vạn niên” (một ánh nhìn, vạn năm vương vấn).
Nhưng cũng chẳng có gì phải trăn trở, bởi ngày nào ta cũng bận rộn tối mặt.
Trong tiệm có bao nhiêu việc phải lo toan chờ ta giải quyết.
À đúng rồi, ta còn mở thêm ba chi nhánh trong thành nữa.
Một tiệm bán đồ thêu, một tiệm bán điểm tâm, một tiệm bán phấn son, đều lấy tên Đồng Hoa Ký.
Nhân viên trong tiệm đều là con gái, mọi người đều gọi ta là Đồng Hoa tỷ.
Cảm giác được mọi người cần đến này khiến trái tim ta tràn đầy, mỗi ngày đều sống rất trọn vẹn.
Qua năm mới là đến lễ Phật Đản, dân làng đề cử ta đóng vai Quan Âm.
Thực sự không từ chối được, ta đành phải lên đồ sắm vai để mua vui cho đại chúng.
Cả tiệm nghỉ một ngày, các cô gái vây quanh ta, cùng đi đến miếu Quan Âm bái tạ thần linh.
Chỉ là, trong lúc thoáng qua giữa đám đông, ta chợt thấy một bóng hình quen thuộc.
Ta chỉ nghĩ là mình nhìn hoa mắt thôi, người đông thế kia, nhìn lướt qua làm sao chính xác được.
Người ta giờ chắc đang làm quan lớn tận kinh thành, chắc chắn là ta nhìn nhầm rồi.
Theo lệ cũ, người đóng Quan Âm phải ở lại miếu một đêm, ta đành nghỉ lại đây.
Buổi tối khi mọi người đã tản đi, ta làm bạn với các sư thái trong chùa.
Mọi người cùng dùng cơm chay rồi ra sau núi đi dạo.
Dư Lâm sư thái đi cùng ta trên con đường mòn giữa núi, gió lùa tới mặt, mang theo cảm giác khoan khoái dễ chịu không sao tả xiết.
Sư thái nói ta có duyên với Quan Âm, Bồ Tát định sẵn sẽ phù hộ cho ta luôn bình an, vạn sự như ý.
Ta nói ta đã thấy rất mãn nguyện rồi.