Chương 10 - Mái Nhà Mới Giữa Làng Quê
14
Bốn năm đại học trôi qua như chiếc đồng hồ được lên dây cót, quay vù vù không ngừng nghỉ.
Ngoài phòng học, thư viện và phòng thí nghiệm, nơi tôi lui tới nhiều nhất chính là các trung tâm gia sư và những khu dân cư nơi học sinh ở.
Tôi muốn tự mình kiếm tiền để mua chút gì đó tốt hơn cho ba người thân yêu.
Tôi nhận ba suất dạy kèm, vào cuối tuần và những buổi tối không có tiết học, rong ruổi trên các tuyến xe buýt khác nhau.
Tiền kiếm được chẳng dễ dàng, nhưng nhìn số dư trong sổ tiết kiệm từ từ tăng lên, lòng tôi thấy vững chãi.
Trong học tập, tôi càng không dám lơi lỏng chút nào.
Các môn cơ sở của ngành khoa học vật liệu đều nặng nề và khó nhằn, từ cấu trúc tổ chức kim loại đến cấu trúc chuỗi polymer – mỗi môn học đều cần đầu tư rất nhiều sức lực.
Đêm về, khi rời khỏi phòng thí nghiệm hoặc thư viện để về ký túc, đi trên con đường vắng của khuôn viên trường, ngẩng đầu nhìn lên bầu trời sao về hướng quê nhà, tôi lại thấy lòng mình trỗi dậy một luồng quyết tâm mạnh mẽ.
Năm thứ tư đại học, tôi tốt nghiệp với thành tích thuộc top đầu ngành, trên tay là chứng nhận “Sinh viên xuất sắc” và một loạt giải thưởng giá trị.
Vài công ty ngoài tỉnh gửi thư mời với mức lương hấp dẫn.
Nhưng tôi không hề do dự, mang theo hồ sơ đến gõ cửa phòng nhân sự của công ty chị Lý.
Khi thấy tôi, chị Lý không tỏ ra bất ngờ, chỉ gật đầu:
“Đến rồi à? Vào bộ phận R&D báo danh, bắt đầu từ những dự án cơ bản.”
Chị không cho tôi bất kỳ ưu ái nào, thậm chí còn yêu cầu khắt khe hơn.
Tôi lao vào xưởng và phòng thí nghiệm, theo các kỹ sư kỳ cựu học cách thao tác thực tế, miệt mài nghiên cứu cách tối ưu quy trình sản xuất.
Nửa năm sau, tôi tham gia vào một dự án cải tiến vật liệu composite có hiệu suất cao với chi phí thấp, và dự án đã có bước đột phá.
Khi dữ liệu kiểm nghiệm được công bố, tổ trưởng dự án đập mạnh tay lên vai tôi.
Tôi biết, bước chân đầu tiên trên con đường này, tôi đã đặt vững vàng.
Cuối tuần nhận được tháng lương chính thức đầu tiên, tôi đi khắp các trung tâm thương mại lớn trong thành phố.
Tôi chọn cho ông một chiếc áo khoác phao màu nâu sẫm, có lớp lót dày, kiểu dáng trung dài; cho bà nội và bà ngoại, tôi mua hai chiếc áo khoác phao dáng ngắn cùng kiểu, chất liệu mềm nhẹ, giữ ấm tốt.
Nhìn giá trên nhãn mác khiến tôi phải hít một hơi xót ruột, nhưng nghĩ đến bóng dáng họ còng lưng nơi bếp lửa, trong gió lạnh, tôi không do dự quẹt thẻ.
Tôi lên xe khách đường dài về quê, đến cổng nhà thì trời đã chập tối.
Từ bếp nấu bay ra mùi cơm canh quen thuộc, bà nội đang nhóm lửa, ông thì thu dọn nông cụ trong sân, bà ngoại ngồi ở bậc cửa nhặt rau.
Thấy tôi tay xách nách mang bước vào, ba người đều sửng sốt.
“Con lại mua đồ gì nữa vậy, con ơi? Không phải đã bảo đừng tiêu hoang sao?”
Bà nội vừa lau tay vào tạp dề vừa bước tới.
Tôi lấy áo ra, giũ nhẹ:
“Ông, bà nội, bà ngoại, thử xem đi. Giờ thành phố người ta chuộng mặc cái này, nhẹ mà ấm.”
Ông sờ lớp vải chống thấm mượt mà, môi mấp máy, không nói nên lời.
Bà ngoại cầm áo lên, xem xét kỹ, ngón tay mân mê đầu khóa kéo.
“Chắc tốn một đống tiền oan rồi…”
Giọng bà nội nghèn nghẹn.
“Nhà quê mình mặc đồ tốt thế này làm gì chứ…”
“Mặc ấm là được rồi.”
Tôi giơ áo ướm thử lên người bà.
“Mặc thử đi, lạnh là mặc luôn.”
Áo mặc vào vừa khít đến lạ, nhẹ tênh, khiến dáng người như gọn gàng hơn hẳn.
Bà nội soi gương mãi trong nhà, miệng thì lầm bầm “phí tiền”, nhưng khóe mắt thì hằn đầy nếp nhăn vui vẻ.
Hôm sau, khi tôi còn đang sắp xếp mấy món mang về thì nghe tiếng bác gái hàng xóm vang dội từ ngoài sân:
“Ối giời ơi! Bà nội nó ơi! Áo mới đẹp quá trời! Vải nhìn là biết đắt tiền rồi!”
Tôi nhìn qua cửa sổ, thấy bà nội đang mặc chiếc áo phao đỏ sẫm ấy, bị vài bà bạn vây quanh, mặt rạng rỡ không giấu nổi niềm vui, dù miệng vẫn vờ trách yêu:
“Ừ thì, cháu tôi cứ đòi mua đấy chứ. Nó bảo thành phố ai cũng mặc như vậy, nhẹ tênh. Cái con bé này, mới kiếm được chút tiền đã tiêu linh tinh…”
Lời nói có vẻ than trách, nhưng giọng điệu và thần sắc thì đầy tự hào và hân hoan đến tràn ngập.
Sáng hôm đó, bà nội và bà ngoại còn “tiện đường” đi mua muối ở đầu làng, rồi “tình cờ” ghé qua gốc cây hòe giữa làng trò chuyện với người quen, buổi chiều lại ra vườn rau “đi dạo”.
Hai bóng áo đỏ sẫm nổi bật giữa ngôi làng mùa đông xám xịt.
Về sau, bà ngoại lén kể tôi nghe, ông cũng mặc chiếc áo khoác mới ấy, đi sang làng bên đánh cờ với bạn cũ cả buổi chiều.
15
Hai năm sau, tôi đã tích góp đủ tiền đặt cọc và mua được một căn hộ ba phòng ngủ, một phòng khách ở thành phố.
Khu chung cư yên tĩnh, môi trường xanh mát, quan trọng nhất là cả ba phòng ngủ đều quay về hướng nam, ánh nắng chan hòa.
Ngày nhận nhà, tôi đi đi lại lại trong căn hộ trống rỗng, vừa đi vừa thầm tính toán:
Phòng lớn nhất, cửa sổ sáng nhất, dành cho ông bà nội; phòng bên cạnh, gần nhà vệ sinh hơn, để bà ngoại tiện đi lại; còn lại là phòng của tôi.
Phòng khách nhất định phải có một bộ sofa thật thoải mái, ban công để ông trồng cây, chăm hoa; nhà bếp phải rộng rãi để bà nội và bà ngoại cùng nhau nấu nướng.
Ngày đón ba người lên thành phố là một buổi sáng mùa thu nắng đẹp.
Hàng xóm thân quen, các bác các thím gần xa đều kéo đến, sân nhà, cổng ngõ chật kín người, còn náo nhiệt hơn cả ngày Tết.
Bà nội và bà ngoại lần lượt nắm tay từng người, dặn đi dặn lại: “Có dịp ghé thành phố chơi”, “Nhớ gọi điện thường xuyên nhé”, giọng nói đã bắt đầu nghẹn ngào.
Ông không giỏi nói chuyện, chỉ liên tục đưa thuốc cho bạn cũ, tay hơi run, nhưng nét cười thì không ngớt nở trên gương mặt.
“Con bé Niệm Niệm thật có tiền đồ.”
“Phải đấy, ở thành phố mà cũng mua được nhà, lại còn đón cha mẹ lên hưởng phúc nữa.”
“Chúc mừng bác trai, bác gái, có phúc lắm đấy!”
Lời chúc mừng, tiếng cảm thán rì rào vang lên khắp sân.
Chiếc xe nhỏ đã đậu ngay ngoài đường đất trước cổng, tài xế đã khởi động máy.
Tôi đỡ bà nội, bà ngoại nắm tay ông, đang chuẩn bị ra xe.